Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội TƯ VẤN LUẬT TRỰC TUYẾN CÔNG TY LUẬT BÁCH DƯƠNG
Hotline 1900 6280

Đơn kiện đòi lại di sản thừa kế

Đơn kiện đòi lại di sản thừa kế
Mẫu đơn kiện đòi lại di sản thừa kế. Di sản thừa kế bị chiếm giữ bất hợp pháp, muốn đòi lại để phân chia. Dưới đây là mẫu đơn “ Đơn kiện đòi lại di sản thừa kế” quý khách có thể tham khảo.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------***----------

ĐƠN KIỆN ĐÒI LẠI DI SẢN THỪA KẾ
( là quyền sử dụng 396m2 đất vườn )
 
Kính gửi: Toà án Nhân dân huyện XX
 
Chúng tôi là các đồng thừa kế của cụ Trương Văn XX gồm:Trương Văn XX 74 tuổi, Trương Văn XX 64 tuổi, Trương Thị XX 67 tuổi và Trương Văn XX (đã mất có vợ là Nguyễn Thị XX 74 tuổi làm đại diện) cùng trú tại thôn XX, xã XX, huyện XX, Hà Nội, kính gửi quý Toà đơn khởi kiện đòi lại di sản thừa kế là quyền sử dụng 396m2 đất vườn (nay là ao) đối với bị đơn là Nguyễn Văn XX, trú tại thôn XX, xã XX, XX, chúng tôi xin trình bày cụ thể như sau:
Bố mẹ chúng tôi là cụ Trương Văn XX (mất năm 1982) và Nguyễn Thị XX (mất năm 1986) khi còn sống có tài sản là 8 miếng đất ở, đất vườn và đất ao thuộc các thửa số 48, 54, 55, 69, 84, 100, 108, 407  (theo bản đồ địa chính năm 1986 của xã XX) của xã XX. Các thửa đất này do bố tôi cụ Trương Văn XX đứng tên chủ sử dụng đất trong bản đồ địa chính của xã XX năm 1957 có nguồn gốc do tổ tiên để lại.
Bố mẹ tôi sinh được 5 người con, trừ 1 chị gái đã mất trước bố mẹ không con cái gì (tên là Trương Thị XX) còn 4 người con là: Trương Văn XX (anh trưởng), Trương Thị XX, Trương Văn XX  (mất năm 1991) và Trương Văn Nhuận. Khi bố mẹ chúng tôi còn sống cứ ai đi lấy vợ thì bố mẹ cho đất ở và một phần ao vườn để sử dụng (riêng con gái thì đi lấy chồng ăn bên nhà chồng chứ bố mẹ không cho đất). Sau khi bố mẹ mất đi vào ngày giỗ mẹ (30 tháng 11 âm lịch năm 1989) các anh em chúng tôi cùng họp có sự chứng kiến của đại diện gia tộc bậc cha chú là ông Trương Văn XX và Nguyễn Văn XX là hàng xóm, cùng thoả thuận phân chia di sản thừa kế của bố mẹ theo hiện trạng đất đang sử dụng như sau:
1.Ông trưởng Trương Văn XX: được sử dụng 2 mảnh vườn và 1 cái ao (cái ao ở giữa 2 mảnh vườn). Theo bản đồ địa chính năm 1986 thì thuộc thửa 48 (370m2 đất vườn), thửa số 69 (544m2 sau thành đất ở) và thửa 84: 362m2 (ao).
2.Ông Trương Văn XX: được sử dụng 2 cái ao liền nhau và một mảnh vườn (thuộc thửa 407: 392m2 (ao); thửa 54: 860m2 (đất ở), thửa 108: 396m2 (trước thửa này là vườn, từ năm 1972 mới thành ao do 2 ông XX và XX đào đất đóng gạch nên gọi là đất thùng gạch).
3. Ông Trương Văn XX (em trai út): được sử dụng 1 vườn 1 ao thuộc thửa 55: 728m2 (đất ở) và thửa 100: 521m2 (ao).
Biên bản này cũng đã được em gái của chúng tôi là bà Trương Thị XX cũng nhất trí theo sự phân chia đó.
Trong số 8 mảnh đất đó thì có mảnh vườn 396m2 thuộc thửa 108 là đất đang bị ông Nguyễn Văn XX chiếm sử dụng trái phép.
Thửa đất này có vị trí: phía Đông giáp đường đi của xóm, phía Nam giáp đường đi cạnh đất nhà ông XX, phía Tây giáp cái ao của ông XX (thửa số 407), phía Bắc giáp ao của ông Trương Văn XX (hàng xóm). Vì đất ở chỗ này trũng nên gia đình chúng tôi chỉ gieo mạ và cấy rau muống, xung quanh vườn bố mẹ có trồng các bụi tre và xoan để làm ranh giới giữa các thửa đất liền kề. Hiện nay ở phía Tây vẫn còn các bụi tre này. Năm 1963 đến 1965 bố mẹ chúng tôi có cho hợp tác xã xóm Nhì và Đoàn thanh niên thuê để thả bèo hoa dâu giống và có trả bằng công điểm quy ra thóc. Chúng tôi có xác nhận của Ban chủ nhiệm HTX cũ là thửa đất này không đưa vào hợp tác xã nên mới trả cho gia đình bằng công điểm mỗi vụ bằng 45 công (bằng 28 kg thóc). Từ năm 1965 khi xảy ra chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ thì Trường cấp 3B của huyện Đông Anh (nay là trường cấp 3 XX) sơ tán về xóm Nhì và có mượn đất để nhờ làm trường học, đến năm 1971 thì Nhà trường rút đi trả lại đất cho bố mẹ tôi sử dụng.
Thửa đất này tuy chia phần ông XX nhưng thực tế anh em chúng tôi vẫn sử dụng chung để gieo mạ, trồng rau muống. Sau đó thì ông XX và ông XX lại đào đất đóng gạch nên lâu dần thì cải tạo luôn thành ao. Như vậy cái ao mới này có chung bờ với các ao thuộc thửa 407 có cống để tháo nước thông nhau. Sau khi cải tạo thành ao thì gia đình ông XX sử dụng để thả bèo, nuôi cá. (Tuy nhiên sau này chúng tôi mới biết vào năm 1986 địa chính xã có đi đo đất thổ cư nhưng không thông báo cho nên chúng tôi không biết để kê khai do đó cán bộ địa chính vẫn nghĩ là của hợp tác xã nên tạm ghi là đất của tập thể. Như vậy là không đúng vì chúng tôi đã có xác nhận của ông Trần Văn XX – nguyên Chủ nhiệm hợp tác xã từ năm 1971 là hợp tác xã đã kiểm tra đất vào năm 1972 và xác nhận “đây là đất của gia đình cụ Trương Văn XX nên tập thể không thu hồi quyền sử dụng đất của gia đình, ban quản trị HTX hợp nhất không có quyền quản lý quyền sử dụng đất của gia đình cụ XX”).
 Thửa đất này phía Bắc giáp với bờ ao của gia đình ông Trương Văn XX (thửa 142: 776m2). Từ năm 1991 có ông Nguyễn Văn XX người cùng thôn thuê ao nhà ông XX để thả cá. Sau đó lợi dụng hai cái ao chung bờ nên ông XX đã phá luôn bờ để 2 ao thông nhau và chiếm cả diện tích ao của nhà ông XX. Kể từ năm 1992 gia đình ông XX đã nhiều lần khiếu nại yêu cầu ông XX phải trả ao nhưng chưa có kết quả. Cũng năm 1991 ông XX nhập nhèm làm đơn xin mua đất của hợp tác xã ở chỗ đất ao này nhưng thực tế không nộp đủ tiền mục đích là để hợp pháp việc chiếm đất của chúng tôi. Chúng tôi đã có xác nhận của ông Nguyễn Mạnh XX –là chủ nhiệm hợp tác xã XX từ năm 1989-1992 là: hợp tác xã XX chưa hề đo đất bán ông XX vì lúc đó gia đình ông Trương Minh XX (là con của ông XX) có đơn khiếu nại đòi đất, mặt khác ông XX chỉ có đơn chứ chưa hề nộp đủ tiền.
Như vậy việc gia đình ông Nguyễn Văn XX sử dụng thửa ao (nguyên là đất vườn) là di sản thửa kế của anh em chúng tôi (hơn nữa lại có tài sản trên đất gắn liền với quyền sử dụng đất ao là các bụi tre) là không có căn cứ pháp luật. Bởi vì đất đó không phải là của tổ tiên ông XX mà là của cụ XX để lại cho các đồng thừa kế (là anh em chúng tôi), chúng tôi không hể có bán, cho, tặng, hay đổi đất gì với ông XX, chúng tôi có xác nhận của những người có trách nhiệm về nguồn gốc đất gồm: Ông Trần Văn XX: Nguyên chủ nhiệm HTX năm 1971; Bà Nguyễn Thị XX: Nguyên chủ nhiệm HTX hợp nhất 1 (từ năm 1965); Ông Chử Văn XX: Nguyên cán bộ địa chính xã Vân Nội năm 1960-1962 và thời kỳ 1987-1995. Ông Nguyễn Văn XX: Nguyên cán bộ chi đoàn thanh niên, sau làm chủ nhiệm HTX; Ông Nguyễn Văn XX: Nguyên Bí thư chi bộ năm 1988-1993. Trình bày của chúng tôi là đúng sự thật, nếu không tin đề nghị toà án đi điều tra. Trong quá trình giải quyết khiếu nại của chúng tôi tại UBNX xã XX thì gia đình ông XX (con là Nguyễn Văn XX) không có giấy tờ nào theo quy định của Luật đất đai. Trong khi UBND xã XX đã xác nhận thửa đất ao này là có nguồn gốc của tổ tiên để lại cho bố mẹ chúng tôi là cụ Trương Văn XX và Nguyễn Thị XX và trong bản đồ địa chính năm 1957 đã ghi rõ chủ sử dụng đất đã đăng ký là Trương Văn XX. Do đó việc chiếm giữ sử dụng cái ao của ông XX (hiện nay do con trai là Nguyễn Văn xX đang sử dụng) là bất hợp pháp.
Vì vậy bằng đơn này chúng tôi kính đề nghị quý Tòa giải quyết yêu cầu kiện của chúng tôi buộc gia đình ông Nguyễn Văn XX trả lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất ao 396m2 kèm theo các tài sản gắn liền trên bờ ao (là các bụi tre già lâu đời của tổ tiên để lại). Xin trân trọng cảm ơn.
(Xin gửi kèm theo các tài liệu liên quan: Bản chứng nhận chia đất ở ao vườn của tổ tiên để lại, xác nhận của các nhân chứng về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất).
 
Vân Nội, ngày …. tháng ….  năm 20…..
Các đồng thừa kế ký tên
 

HÃY GỌI 1900 6280
ĐỂ NGHE LUẬT SƯ TƯ VẤN

Nội dung tư vấn trên website chỉ mang tính tham khảo, cần Luật sư tư vấn chi tiết quý khách vui lòng gọi 1900 6280
Tags :
 

Để nghe Luật sư tư vấn

19006280

Trước hết Công ty Luật Bách Dương xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng nhất!Với khẩu hiệu "An toàn pháp lý - Nền tảng thành công!" Trong quá trình hoạt động chúng tôi đã nhận được nhiều sự tin tưởng từ các quý khách hàng trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên một số thông tin chi tiết và các loại hình dịch vụ pháp lý được Công ty chúng tôi cung cấp thì không phải khách hàng nào cũng biết đến,...

Chi tiết